TỪ PYTHAGORAS ĐẾN COLUMBUS

Giờ đây chúng ta đã biết quan điểm cho rằng bề mặt Trái Đất là một hình cầu có nguồn gốc từ đâu và khi nào. Nếu những môn đệ theo phái Phytagoras đã tuyên thệ giữ bí mật, thì hà cớ gì những kiến thức này bị rò rỉ ra ngoài? Và một khi nó bị rò rỉ, tại sao nó lại được đánh giá hết sức nghiêm túc và làm sao mà thông tin này lại được truyền đến tận thời nay?

Điều đầu tiên cần biết là nhân tính không thay đổi quá nhiều trong ba thiên niên kỷ qua. Hầu hết con người chúng ta đều bị thu hút bởi các sự kiện huyền bí, rất ít chống lại sức quyến rũ của công cuộc tìm kiếm các tri thức đích thực nằm bí mật đằng sau những huyền bí đó. Hãy xem thành công của cuốn tiểu thuyết và bộ phim “Mật mã Da Vinci” gần đây. Tầm nhìn của trường phái Phytagoras đảm bảo một thị trường lớn cho các cuốn sách với mục đích tìm hiểu những khái niệm và niềm tin của họ. Đương nhiên là rất nhiều sách đã được xuất bản. Philolaus là một trong những người bị cáo buộc đã viết cuốn sách về thiên nhiên chỉ vì tiền.

Nhà triết học vĩ đại Plato (427-347 TCN) tiếp nhận ảnh hưởng của trường phái Phytagoras khá nhiều. Ông mua các cuốn sách của Philolaus cho Viện Hàn Lâm do ông đã thành lập tại Athens. Ông cũng là người bạn rất thân của nhà toán học hạng nhất theo trường phái Phythagoras, Archytas (khoảng 428-350 TCN). Kết quả là, nhiều ý tưởng của Phythagoras đã len vào hệ thống tư tưởng của Plato cũng như dòng tư tưởng chính thống Hy Lạp. Môn đệ xuất sắc nhất của Viện hàn lâm là Aristotle (384-322 TCN), mặc dù ít say mê các lý thuyết của phái Phytagoras (ông nổi tiếng coi họ là những người “ăn chay bẩn thỉu”), cũng tích hợp khá nhiều ý tưởng của họ vào chính công trình vĩ đại của mình.

Sự phổ biến của tư tưởng Aristole lớn đến mức mà người ta không cần phải phóng đại mức độ ảnh hưởng của ông. Ông soạn lại các quy tắc của logic hình thức, hệ thống hóa triết học, và đóng góp vào hầu hết tất cả các ngành của khoa học tự nhiên. Ông rao giảng rằng trái đất là một hình cầu mà mặt trời và mặt trăng quay xung quanh. Các tác phẩm của ông về đạo đức, mỹ học, và chính trị vẫn còn được đọc cho đến ngày hôm nay. Tư tưởng tôn giáo thời trung cổ, cả thiên chúa giáo lẫn hồi giáo đều bắt nguồn từ các nguyên lý của Aristotle. Quan điểm trái đất là hình cầu đã đứng vững nhờ sự chống lưng bởi uy quyền Plato và Aristotle, và bởi những khám phá mà tôi sẽ mô tả trong giây lát.

Vai trò của Aristotle là thầy giáo riêng của Alexander Đại đế, người có quyền lực nhất trên thế giới lúc bấy giờ, cũng đã góp phần truyền bá ý tưởng của Phythagoras mạnh mẽ hơn, mặc dù ít trực tiếp hơn lời các bài giảng trực tiếp của mình. Với nền tảng là cuộc chinh phục Hy Lạp của cha năm 338 TCN, Alexander đã tiến lên chinh phục toàn bộ thế giới thời đó. Cho đến khi chết vào năm 323 TCN, đế chế của Alexander kéo dài từ khắp Địa Trung Hải vào đến Ấn Độ.

Mặc dù các dữ kiện phức tạp về mối quan hệ giữa ông giáo Aristole và cậu học sinh thông minh Alexander đã thất lạc hoàn toàn, không nghi ngờ gì về việc Aristole đã thỉnh cầu Alexander sử dụng các chiến dịch hành quân cho các quan sát khoa học. Không biết đề nghị của Aristole có được Alexander để ý hay không nhưng đại đế đã đem theo các họa sĩ vẽ bản đồ trong các chiến dịch của mình. Tất cả bản đồ đó đã thất lạc nhưng các văn bản viết tay của một số tướng lĩnh thì vẫn còn và trở thành nguồn dữ kiện cơ bản để vẽ lại bản đồ vài trăm năm sau đó.

Sau cái chết của Alexander đại đế, đế chế của ông tan rã. Phần lãnh thổ lớn nhất rơi vào tay tướng của ông, Ptolemy Soter đệ nhất, và ông này đã chọn Alexandria nơi cửa miệng sông Nile làm thủ đô. Chính tại nơi đây, tại thành phố đầu tiên và lớn nhất do ngài đại đế xây dựng và mang chính tên ngài, Ptolemy bắt tay vào xây dựng thư viện huyền thoại để đảm bảo vị trí thủ đô trí tuệ và văn hóa của thế giới cho Alexandria. Các học giả đổ xô vào đại thư viện này, mong muốn nghiên cứu các bộ sưu tập có hàng trăm ngàn cuốn sách và kinh thư. Chức vụ tổng giám thư viện có lẽ là học vị cao nhất mà một người có thể đạt được trong thế giới cổ đại, tương tự như chức viện trưởng viện hàn lâm Athens của Plato hay như hiệu trưởng đại học Harvard hoặc chức giám hiệu Trinity College của đại học Cambridge ngày hôm nay.

Eratosthenes (275-195 TCN) xứ Cyrene (ngày nay là Shahhat nước Libya) đã trở thành tổng giám thư viện đời thứ ba vào năm 235 TCN trong triều đại của Ptolemy đệ nhị. Eratosthenes học địa lý tại Athens nhưng đồng thời ông cũng làm thơ, viết phê bình văn học, và theo đuổi toán học, thiên văn học, và triết học.Ông tuyệt nhiên không nghi ngờ gì về giả thuyết trái đất là một hình cầu – ông lý luận thêm rằng nếu căng buồm từ Tây Ban Nha về phía Tây ta sẽ gặp Ấn Độ. Ông thậm chí còn một bản đồ hành trình.

Nhưng ông nổi tiếng nhất với lý luận cho rằng tại hai điểm cách xa nhau nhiều dặm nằm ở hai đầu bắc nam, ta sẽ nhìn thấy mặt trời ở các góc độ khác nhau trong cùng một thời điểm trong ngày. Ông cũng chỉ ra rằng nếu giả sử trái đất là một hình cầu, ta có thể sử dụng sự chênh lệch của các góc này để ước lượng khoảng cách trên thế giới. Eratosthenes đo được độ chênh lệch giữa hai góc tại Alexandria và tại một nơi ngày nay là Aswan, 486 dặm về phía nam sông Nile, vào lúc giữa trưa và tính toán được chu vi của trái đất với độ chính xác tuyệt vời mà những người chống lại Columbus đã sử dụng tại hoàng cung Tây Ban Nha sau này. Vài thế hệ sau, Hipparchus (190-120 TCN) đề xuất ý tưởng cho rằng trái đất quay vòng quanh mặt trời, và đồng thời thiết lập hệ thống đo lường dựa vào vĩ độ và kinh độ chia trái đất thành 360 độ.

Alexandria tiếp tục là thiên đường của các nhà địa lý, toán học, và thiên văn học ngay cả lâu sau khi đại thư viện bị tiêu hủy. Đáng kể nhất là Claudius Ptolemy (85-165 CE). Cuốn sách Địa lý của ông là một loại sách hạng nặng: một cuốn sách bao gồm tất cả tri thức của người xưa, cuốn sách đã chứng tỏ tác giả am hiểu sâu sắc về tất cả vấn đề một cách hoàn hảo và nó đã trở thành tiêu chuẩn tuyệt đối.Ptolemy thảo luận các vấn đề trong việc lập bản đồ của trái đất cong lên một mảnh giấy bằng phẳng và tìm các phương án khả thi để chiếu hình cầu xuống một mặt phẳng. Ông chỉ ra rằng một khi ta liên hệ được tọa độ (trong trường hợp này là kinh độ và vĩ độ) với vị các trí cần vẽ bản đồ, ta có thể dựng lại bất cứ bản đồ nào tùy thích. Dựa vào các tác phẩm còn sót lại của các tướng sĩ Alexander và số liệu thu thập được bởi các nhà du hành khác, Ptolemy tính toán kinh độ vĩ độ cho tất cả những nơi đã từng được biết đến.

Các bản đồ trong phiên bản gốc của cuốn sách Địa lý đã thất truyền. Tuy nhiên, điều đó chẳng gây khó khăn gì cả. Văn bản chữ viết vẫn còn rất rõ ràng và vẫn đem lại lợi ích cho nhân loại cho đến ngày hôm nay. Nhìn chung, Ptolemy tưởng tượng sự sống trên trái đất tồn tại trên khoảng một nửa hành tinh, từ bờ biển Tây Âu đến Ấn Độ và xa hơn nữa. Ông ước tính chu vi của trái đất khoảng 18.000 dặm, ít hơn rất nhiều so với kết quả của Eratosthenes, nhưng lớn hơn của Columbus.

Hầu hết mọi người đã quên lãng cuốn Địa lý của Ptolemy trong nhiều năm, ngoại trừ một số khoa học gia Hồi giáo. Tại Palermo, trong triều đại đa văn hóa của vua Norman Roger đệ nhị, al-Idrisi (khoảng 1100-1165) sử dụng một bản dịch tiếng Ả Rập tác phẩm của Ptolemy và hoàn thiện các tính toán. Còn nguyên bản bằng tiếng Hy Lạp thì bị mất tích cho đến khi một nhà sư Byzantine, Maximos Planudes (khoảng 1260-1330), tìm thấy được một bản sao nhưng lại không có bản đồ. Planudes tự tay tái dựng lại một số bản đồ và ủy thác người khác làm phần còn lại. Năm 1406, tác phẩm được dịch sang tiếng Latin, một nhà sư dòng Benedictine, Nicolas Germanus, đã vẽ lại tất cả bản đồ dựa vào phép chiếu hình thang, một trong ba phương pháp đề xuất bởi Ptolemy.Loạt bản đồ này làm cơ sở cho tập bản đồ của Ptolemy lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1477 tại Bologna với năm trăm ấn bản.Columbus sở hữu một bản và nghiên cứu rất cẩn thận.

Quan điểm của Pythagoras đã được truyền đi một cách thành công qua Plato, Aristotle, các nhà địa lý uyên bác của Alexandria, Sicily, cho đến thời kỳ đầu trung cổ. Vào thời Columbus, hầu như tất cả mọi người tin rằng Trái Đất là hình cầu. Có quá nhiều bằng chứng ủng hộ cho niềm tin này. Tia nắng từ mặt trời tạo thành các góc khác nhau tại các địa điểm khác nhau trên trục bắc nam. Khi một con tàu tiến dần vào cảng từ đại dương bao la, cột buồm là vật đầu tiên mà người trên đất liền nhìn thấy, tiếp theo đó là phần còn lại của con tàu. Thủy triều, đêm và ngày, pha của Mặt Trăng, và rất nhiều hiện tượng tự nhiên sẽ được giải thích hợp lý hơn nếu như Trái Đất là một hình cầu.

About these ads